Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2012

Tinh tấn Ba La Mật



Học Phật không ai không biết ý nghĩa quan trọng của việc tinh tấn; nhưng thực hành tinh tấn đúng theo chân tinh thần Bồ Tát Đạo, lại là vấn đề thử thách lớn khó thể làm được. Tuy nhiên trước sau gì người Phật tử cũng phải trải qua con đường Bồ Tát đạo, nếu tự nhận mình là đệ tử của Như Lai. Và con đường đầu tiên của hạnh Bồ Tát, đó là Tinh tấn Ba La Mật.
Sau đây thử tìm hiểu, hạnh tinh tấn theo dấu chân của Bồ Tát.
Bồ Tát Thế Thân dạy, tinh tấn có hai môn:
-Vì cầu vô thượng Bồ Đề
-Vì muốn cứu độ chúng sanh rộng khắp
Do hai lý do đó mà khởi tâm tu pháp Tinh tấn Ba la mật vậy. (*)
Chúng ta thấy hai việc mà Bồ Tát Thế Thân dạy, đánh động nơi tâm của người học Phật, khiến tâm hành giả khởi phát đại bi, cầu đạo giải thoát. Cầu đạo giải thoát là cầu vô thượng Bồ Đề; cầu vô thượng Bồ Đề cũng có nghĩa khởi đại bi tâm rộng độ khắp chúng sanh.
Đương nhiên muốn cầu vô thượng Bồ Đề, tất phải hiểu biết ý nghĩa nhân duyên, nhân quả của Vô thượng Bồ Đề; và chắc chắn rằng phải hiểu cả thế giới đau khổ đang vây bủa chúng sanh. Nói cách khác phải hiểu quả vị Bồ Đề vô thượng, là đối lại sự sinh diệt trong ba cõi, Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nhưng Bồ Tát Thế Thân lại dạy thêm, cần phải có mười niệm mới giúp chư Bồ Tát thành tựu trọn vẹn việc hành tinh tấn Ba La Mật.
Mười niệm là: 
1-Tưởng niệm vô lượng công đức của chư Phật
2-Tưởng niệm công đức Chánh pháp bất tư nghì giải thoát
3-Tưởng niệm công đức Tăng già thanh tịnh vô nhiễm
4-Tưởng niệm tu hành tâm Đại từ, để an vui chúng sanh
5-Tưởng niệm thực hành tâm Đại bi cứu khổ chúng sanh
6-Tưởng niệm chánh định, khuyến cần chúng sanh an vui tu tập thiện pháp
7-Ghi nhớ các tà định  của chúng sanh để cứu giúp họ trở về chánh định.
8-Tưởng niệm đến cảnh nhiệt não, cơ khát của loài quỷ mà cứu tế
9-Tưởng niệm khổ cảnh nơi địa ngục chúng sanh chịu sự thiêu đốt bức não mà cứu tế
10-Tưởng niệm đến cảnh khổ đau triền miên của loài súc sanh mà cứu giúp.
Sơ lược nội dung mười niệm như sau:  
1-Tưởng niệm vô lượng công đức của chư Phật.
Công đức của chư Phật không thể nghĩ bàn, cho nên người học Phật không thể không tưởng niệm. Nếu hỏi công đức đó thế nào? Xin thưa là công đức trước khi đắc quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác -  các Ngài đã phải hành vô số thiện nghiệp Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, mới thành tựu Phật quả. Và từ quả vị Phật, chư Phật vẫn tiếp tục hoằng hóa chúng sanh khắp ba cõi. Chỉ có thể nêu bấy nhiêu công đức như vậy; thật ra chính cả hàng Bồ Tát lớn cũng không thể nói hết được; do đó hàng Bồ Tát lớn mới luôn luôn tưởng niệm công đức chư Phật. Lại đơn thuần tóm lược mà nói, sự xuất hiện của chư Phật đã đưa vô số chúng sanh đang sống trong vô minh ngu si, tạo được nhân duyên thoát khỏi sanh tử thành tựu giải thoát; rồi từ quả giải thoát quay lại cứu độ chúng sanh khác, cứ tiếp tục tạo duyên nối tiếp như vậy mãi, đó là công đức vô thượng không thể nghĩ bàn.
2-Tưởng niệm công đức Chánh pháp bất tư nghì giải thoát.
Phật xuất hiện đã độ vô lượng chúng sanh, rồi sau khi nhập diệt vẫn còn độ vô số chúng sanh; đó là nhờ giáo pháp vi diệu mà Ngài tìm ra. Giáo pháp đó là Chánh pháp bất khả tư nghị vượt không gian thời gian; không gian là ba cõi, thời gian là quá khứ, hiện tại đến vị lai. Ngay thời đại này được xem là duy vật, nguyên tử, nhưng chánh pháp giải thoát vẫn còn lan rộng khắp nơi, đem lại an lạc hạnh phúc cho muôn người. Và tương lai bao giờ chúng sanh còn nhắc đến chánh pháp, thì việc thành tựu duyên giải thoát sẽ trụ mãi khắp nơi trong ba cõi.
3-Tưởng niệm công đức Tăng già thanh tịnh vô nhiễm.
Phật nhập diệt, chánh pháp vẫn còn lưu trụ thế gian, nhưng nếu hàng đệ tử không tu, không thanh tịnh giáo đoàn, tức giáo pháp Như Lai chỉ còn là lý thuyết để thờ, chẳng khác tôn giáo thờ thần mê tín. Điểm này mà Phật dạy, sau khi Ngài vắng bóng, đệ tử hãy lấy giới luật làm Thầy, lấy giới luật thay thế hình bóng Như Lai. Cho nên đệ tử Phật không giữ lời Phật dạy, dù có thờ lạy Ngài cũng chỉ là gieo duyên, chứ không có kết quả lợi ích gì cho việc chứng đạo. Thành ra một giáo đoàn, một Tăng già thanh tịnh vô nhiễm có vô lượng công đức, vì gìn giữ được đạo giải thoát không biến thành thần quyền mê tín. Bồ Tát biết được điều này nên tưởng niệm công đức đó.
4-Tưởng niệm tu hành tâm Đại từ, để an vui chúng sanh.
Bồ Tát khi liễu đạo, liền phát Bồ đề tâm, tức tâm Đại từ nhắm vào đối tượng chúng sanh; và phải biết tâm Đại từ không thể học được ở thế gian, nếu không có giáo pháp giải thoát xuất hiện. Thế gian ngộ nhận thương người giúp người thoát nạn, thoát chết là từ ái là đại nhân; đây chỉ là phước đức hữu lậu, chỉ tạm cứu khổ một đời, rồi đâu vào đấy. Bởi vì tâm tham sân si là nguồn đau khổ, là gốc luân hồi, nên chưa hiểu đạo giải thoát, có sống bao nhiêu đời cũng không thoát khổ. Phải dùng tâm Đại từ là tâm làm cho chúng sanh tỉnh ngộ giáo lý giải thoát, mới đem lại hạnh phúc chân thật cho chúng sanh; như thế mới thấy tâm Đại từ là con đường duy nhất giúp cho chúng sanh an vui hạnh phúc; và Bồ Tát tưởng niệm tâm Đại từ, mới dễ thành tựu giải thoát.
5-Tưởng niệm thực hành tâm Đại bi cứu khổ chúng sanh.
Cũng giống như tâm Đại từ, và cả hai tâm Đại từ Đại bi đều đầy đủ trí huệ đưa chúng sanh qua bờ giải thoát; hoàn toàn khác với tâm thương yêu tình ái thế gian. Bồ Tát luôn tưởng niệm cả hai tâm như vậy mới khởi tinh tấn Ba La Mật, vượt khỏi hết thảy chướng ngại thế gian. Chúng sanh thường vì tâm phàm phu, tâm tình ái, nên sống vị ngã riêng mình, không thể khởi tâm đại bi, đại từ, do đó không thể tinh tấn học đạo; nếu có tinh tấn cũng không thể đạt được Ba La Mật tinh tấn -  phải thấy rằng việc hành tâm Đại từ Đại bi, chỉ là việc phải làm để thành đạo nghiệp chứ không phải vị ngã tự thân. Cho nên Bồ Tát luôn tưởng niệm thực hành tâm Từ Bi mới khởi được tinh tấn bất thoái chuyển.
6-Tưởng niệm chánh định, khuyến cần chúng sanh an vui tu tập thiện pháp.
Hành Bồ Tát đạo duy nhất mong đạt đến giải thoát, mong cứu khổ chúng sanh; ngoài niệm này ra chẳng một niệm nào khác, đó gọi là chánh định, cũng gọi là thực hành chánh pháp. Thân tâm Bồ Tát thường qua lại vô số cảnh giới chẳng lìa khỏi bồ đề tâm, lấy giới làm Thầy, lấy huệ làm sinh mạng; và dùng vô số phương tiện để lợi ích chúng sanh phát sanh thiện pháp. Như thế Bồ Tát luôn giữ chánh định chánh pháp để phát khởi tinh tấn không thối chuyển.
7-Ghi nhớ các tà định  của chúng sanh để cứu giúp họ trở về chánh định.
Xem thấy thế gian chìm đắm vô minh, sinh ra vô số tà định, tức tâm không sanh thiện pháp; hết đời sống này đến đời sống khác gây tạo ác nghiệp, nên tà định dẫy đầy không gian, và thời gian vô định. Bồ Tát phát đại bi tâm thường luôn nhớ nghĩ cứu độ chúng sanh, nên phát khởi tinh tấn Ba La Mật, nguyện thành chánh giác cứu vớt chúng sanh.
8-Tưởng niệm đến cảnh nhiệt não, cơ khát của loài quỷ mà cứu tế.
Cảnh khổ chúng sanh ở cõi người, đủ khiến Bồ Tát phát khởi bi thương, nay còn thấy cảnh khổ chúng sanh đọa vào loài quỷ, nên Bồ đề tâm còn phát mạnh hơn nữa; do đó Bồ Tát luôn tưởng niệm đến cảnh khổ này, mà phát sinh tinh tấn cứu độ không ngừng nghỉ. 
9-Tưởng niệm khổ cảnh nơi điạ ngục chúng sanh chịu sự thiêu đốt bức não mà cứu tế.
So với cảnh ngạ quỷ, cảnh địa ngục còn đau khổ hơn, Bồ Tát không thể không luôn tưởng niệm ghi nhớ, do đó con đường hành đạo càng thêm tinh tấn cứu độ chúng sanh.
Cuối cùng là,
10-Tưởng niệm đến cảnh khổ đau triền miên của loài súc sanh mà cứu giúp.
Súc sanh mang đủ hình tướng, khắp nơi vô số, nên cảnh khổ cũng không thể nghĩ bàn, Bồ Tát phải thường tưởng niệm, và càng tưởng niệm càng tinh tấn tu đạo giải thoát cứu độ chúng sanh.
Đó là mười niệm mà vị Bồ Tát muốn phát được tinh tấn Ba La Mật, không thể không thực hành.
Xét lại lời dạy của Bồ Tát Thế Thân, trên đường hành Bồ Tát Đạo nếu không phải vì đạo nghiệp giải thoát, hành giả không thể nào thành tựu, và đối tượng tạo nhân thành tựu đạo nghiệp không ngoài chúng sanh trong ba đường đau khổ. Nhưng làm sao ta có thể cứu độ chúng sanh trong khi đạo giải thoát tự mình chưa liễu đạo? Chỉ một điều phải thường tư duy sự khổ của chúng sanh; sự khổ vậy cũng đang có mặt chính ta trong đó. Ngày nào chúng ta còn ở cõi Ta Bà đau khổ, ngày đó còn nếm đủ mọi khổ đau của kiếp người chưa giác ngộ.
Ta càng khổ bao nhiêu, thì vô số chúng sanh khác còn đau khổ hơn ta gấp vạn lần. Và dù đau khổ nhưng ta còn biết đạo giải thoát, như thế chưa gọi là khổ, nếu không nói là đại phước; ngược lại vô số người khác vừa đau khổ thân tâm, vừa chưa hề biết đạo giải thoát, đó mới thật khổ.
Bồ Tát dạy rằng phải luôn tinh tấn, đó là con đường cơ bản phát sinh chánh pháp, tiến gần đến quả giải thoát; nếu không như vậy thiện pháp sẽ không sinh, mà vọng niệm càng thêm tăng trưởng.
Lịch sử xưa nay, chưa có Thánh Tăng Bồ Tát nào không hành tinh tấn mà thành được đạo quả. Dù các Ngài có hành đạo trong rừng sâu hay ngoài phố thị, việc tinh tấn chẳng bao giờ thiếu được.
Tóm lại tinh tấn Ba La Mật, là con đường phải đi qua của một hành giả cầu giải thoát; và thực hành được tinh tấn này, phải ghi nhớ qua mười điều tưởng niệm. Nhưng thiết nghĩ rằng, mười điều tưởng niệm này, phải đến từ việc tu học không ngừng qua các việc làm Phật sự, và đọc tụng kinh điển Như Lai; như vậy mới giữ được niềm tin chánh pháp, liễu nghĩa Đại thừa, tinh tấn mà không thấy mình tinh tấn mới thật đúng là tinh tấn Ba La Mật.
Cầu nguyện tất cả chúng ta, những người sơ cơ hạ căn học Phật trong đời sống này, phát khởi thiện tâm thực hành chánh tinh tấn đúng theo chánh pháp.

Chúng con xin thành tâm đảnh lễ Bồ Tát Thế Thân.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô A Di Đà Phật.

Thích Phổ Huân
8/5/2007
 (*)Phát Bồ đề tâm luận, Thế Thân Bồ tát soạn, HT Thích Nguyên Ngôn dịch.

----o0o---
Cập nhật: 10-2008

Thứ Năm, 9 tháng 2, 2012

Hình ảnh Phật nói Kinh A Di Đà


image
Phật nói Kinh A Di Đà kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm. Tôi nghe như vầy. Một thuở nọ, Phật ở nước Xá Vệ, nơi vườn của ông Cấp Cô Độc và cây của ông Kỳ Đà, cùng với 1250 vị đại Tỳ Kheo tụ hội, đều là bậc đại A La Hán mà mọi người biết đến

Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên Diên, Ma Ha Câu Hy La, Ly Bà Đa, Châu Lợi Bàn Đà Dà, Nan Đà, A Nan Đà, La Hầu La, Kiều Phạm Ba Đề, Tân Đầu Lô Phả La Đọa, Ca Lưu Đà Di, Ma Ha Kiếp Tân Na, Bạc Câu La, A Nậu Lầu Đà, các đại đệ tử như thế. Lại có hàng đại Bồ Tát: Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, A Dật Đa Bồ Tát, Càn Đà Ha Đề Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, cùng với các đại Bồ Tát như thế, và Thích Đề Hoàn Nhân, vô số chư Thiên, tất cả đại chúng dự hội.
Bấy giờ, Phật bảo Trưởng lão Xá Lợi Phất: “Từ đây tới phương Tây, trải qua mười vạn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc. Trong cõi đó, có đức Phật hiệu A Di Đà, hiện đang nói pháp.” “Xá Lợi Phất, vì sao cõi đó tên là Cực Lạc? Vì chúng sanh trong cõi nước đó không có những sự khổ, chỉ thọ hưởng các điều vui, nên cõi đó tên là Cực Lạc.
 
Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Cực Lạc đó có bảy lớp dậu rào, bảy lớp mành lưới, bảy lớp hàng cây, đều bằng bốn chất báu, bao vòng khắp nơi, vì thế nên cõi nước đó tên là Cực Lạc.
Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Cực Lạc đó có ao bảy chất báu, trong ao tràn đầy tám nước công đức, đáy ao thuần bằng cát vàng trải làm mặt đất. Những lối đi bốn bên bờ ao là vàng, bạc, lưu ly, pha lê hợp thành. Trên đó, có lầu các, cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, trân châu, mã não.
Trong ao, có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh ánh sáng xanh, hoa sắc vàng ánh sáng vàng, hoa sắc đỏ ánh sáng đỏ, hoa sắc trắng ánh sáng trắng, hương thơm vi diệu tinh khiết. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. 
  
Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Phật đó thường trổi nhạc trời, mặt đất bằng vàng, ngày đêm sáu thời có mưa hoa Mạn Đà La.
 
Chúng sanh trong cõi đó, thường mỗi sáng sớm, lấy vạt áo đựng những hoa kỳ diệu đó, cúng dường mười vạn ức Phật ở các phương khác. Đến giờ ăn, liền trở về nước của mình, ăn cơm, rồi kinh hành. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
 
Lại còn nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước đó thường có nhiều giống chim kỳ diệu, đủ các màu sắc: chim Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá Lợi, Ca Lăng Tần Già, Cộng Mạng. Các loài chim đó ngày đêm sáu thời hót ca thanh âm hòa nhã. Trong thanh âm đó diễn nói các pháp: Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, các pháp như thế. Chúng sanh trong cõi đó nghe thanh âm ấy, tất cả đều niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.
 Xá Lợi Phất, chớ nghĩ rằng những giống chim nầy thật do tội báo mà sanh ra. Vì sao vậy? Vì cõi nước Phật đó không có ba đường ác. Xá Lợi Phất, trong cõi nước Phật đó thường không có cái tên ác đạo, huống gì có ác đạo thật. Các giống chim ấy là do Phật A Di Đà muốn tuyên lưu tiếng pháp mà biến ra như vậy.
  
Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Phật đó có gió nhẹ thổi các hàng cây báu và các mành lưới báu, phát ra thanh âm huyền diệu, như trăm nghìn thứ nhạc cùng lúc hòa chung. Nghe thanh âm đó, mọi người đều tự nhiên khởi tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế. 
Xá Lợi Phất, ý ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là A Di Đà? Xá Lợi Phất, đức Phật đó có hào quang sáng chói vô lượng, chiếu soi các cõi nước mười phương không chỗ nào chướng ngại, vì thế nên hiệu là A Di Đà.
Lại nữa, Xá Lợi Phất, đức Phật đó và người dân cõi đó sống lâu vô cùng, nên có tên là A Di Đà. Xá Lợi Phất, đức Phật A Di Đà thành Phật cho đến nay đã được mười kiếp.

Lại nữa, Xá Lợi Phất, đức Phật đó có vô số hàng Thanh Văn đệ tử, đều là bậc A La Hán, nhiều không thể tính đếm mà biết được. Các vị Bồ Tát cũng đông như thế. Xá Lợi Phất, cõi nước Cực Lạc thành tựu công đức trang nghiêm như thế.
Lại nữa, Xá Lợi Phất, nơi cõi nước Cực Lạc đó, chúng sanh được sanh về, đều là bậc chẳng thối chuyển. Trong đó có rất nhiều vị một đời thành Phật, số đó rất đông, nhiều không thể tính đếm mà biết được, chỉ có thể nói là vô số.
 
Xá Lợi Phất, chúng sanh nào nghe được điều nầy, thì phải nên phát nguyện, nguyện sanh về cõi nước đó. Vì sao vậy? Vì được cùng các bậc Thượng thiện nhân như thế tụ hội một nơi

 Xá Lợi Phất, chẳng thể có chút ít căn lành, phước đức, nhân duyên mà được sanh về cõi nước đó. Xá Lợi Phất, nếu có người con trai lành, người con gái lành nào nghe nói đến Phật A Di Đà, rồi chấp trì danh hiệu, hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày, hoặc bốn ngày, hoặc năm ngày, hoặc sáu ngày, hoặc bảy ngày, tâm chuyên nhất chẳng loạn.

Người đó, lúc lâm chung, được Phật A Di Đà cùng các Thánh chúng hiện ra trước mặt. Người đó, khi chết, tâm không điên đảo, liền được sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà. Xá Lợi Phất, ta thấy lợi ích ấy nên nói lời nầy. Nếu có chúng sanh nào nghe được điều nầy, thì phải nên phát nguyện sanh về cõi nước đó.
 
 “Xá Lợi Phất, như ta hôm nay khen ngợi công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Đà, thì ở phương Đông cũng có Phật A Súc Bệ, Phật Tu Di Tướng, Phật Đại Tu Di, Phật Tu Di Quang, Phật Diệu Âm, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: “Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm”.
 
Xá Lợi Phất, thế giới phương Nam có Phật Nhật Nguyệt Đăng, Phật Danh Văn Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tu Di Đăng, Phật Vô Lượng Tinh Tấn, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: “Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm”.
 Xá Lợi Phất, thế giới phương Dưới có Phật Sư Tử, Phật Danh Văn, Phật Danh Quang, Phật Đạt Ma, Phật Pháp Tràng, Phật Trì Pháp, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: “Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm”. Xá Lợi Phất, thế giới phương Trên có Phật Phạm Âm, Phật Tú Vương, Phật Hương Thượng, Phật Hương Quang, Phật Đại Diệm Kiên, Phật Tạp Sắc Bảo Hoa Nghiêm Thân, Phật Ta La Thọ Vương, Phật Bảo Hoa Đức, Phật Kiến Nhất Thiết Nghĩa, Phật Như Tu Di Sơn, nhiều vô số các đức Phật như thế, ở tại nước của mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp ba nghìn cõi đại thiên thế giới mà nói lời chân thật: “Các chúng sanh phải tin kinh nầy, là kinh khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn và được tất cả các đức Phật hộ niệm”.
Xá Lợi Phất, ý ông nghĩ sao? Vì sao gọi là “kinh tất cả các đức Phật hộ niệm”? Xá Lợi Phất, nếu có người con trai lành, người con gái lành nào nghe được kinh nầy mà thọ trì, và nghe được danh hiệu của các đức Phật, thì những người con trai lành, những người con gái lành đó đều được tất cả các đức Phật hộ niệm, đều được chẳng thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Cho nên, Xá Lợi Phất, các người đều phải tin nhận lời của ta và các đức Phật nói.
 Xá Lợi Phất, nếu có người đã phát nguyện, hiện nay phát nguyện, sẽ phát nguyện, muốn sanh về cõi nước Phật A Di Đà, thì các người đó đều được chẳng thối chuyển nơi đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác ở cõi nước đó, hoặc đã sanh về, hoặc hiện nay sanh về, hoặc sẽ sanh về. Cho nên, Xá Lợi Phất, những người con trai lành, những người con gái lành, nếu có lòng tin thì phải nên phát nguyện sanh về cõi nước đó.
Xá Lợi Phất, như ta hôm nay khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của các đức Phật, thì các đức Phật đó cũng khen ngợi công đức chẳng thể nghĩ bàn của ta mà nói lời nầy: “Thích Ca Mâu Ni Phật hay làm những việc rất khó, ít có, ở cõi Ta Bà ngũ trược ác thế: kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược, đã chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì các chúng sanh nói pháp mà tất cả thế gian khó tin”.
Xá Lợi Phất, phải biết rằng, ta ở cõi đời ngũ trược ác thế, làm những việc khó nầy, chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, vì tất cả thế gian mà nói pháp khó tin nầy, đó là rất khó.” Phật nói kinh nầy xong, ngài Xá Lợi Phất và các vị Tỳ Kheo, tất cả thế gian: Trời, Người, A Tu La, nghe lời Phật nói, vui mừng tin nhận, đảnh lễ rồi lui ra.
Theo: Liễu Quán Huế

Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

Ấn Quang Ðại Sư - Liên Tông Thập Tam Tổ



Ấn Quang Ðại Sư, húy Thánh Lượng, biệt hiệu Thường Tàm, người khoảng cuối Thanh sang kỷ nguyên Dân Quốc, con nhà họ Triệu ở Thiểm Tây. Thuở bé ngài học Nho, lớn lên lấy việc duy trì đạo Khổng làm trách nhiệm, nên theo thuyết của Hàn Dũ, Âu Dương Tu bài bác Phật pháp. Sau bị bịnh mấy năm, tự xét biết lỗi lầm, liền cải hối tâm niệm trước.
Niên hiệu Quang Chữ thứ bảy đời Thanh, vừa sang hai mươi mốt tuổi, căn lành thành thục, ngài xuất gia với Ðạo Thuần Hòa Thượng tại chùa Liên Hoa Ðộng ở núi Chung Nam. Ít lâu sau, lại được duyên thọ Ðại Giới nơi chùa Song Khê, huyện Hưng An với luật sư Ấn Hải Ðịnh.
Ngài từng bị đau mắt khi sanh ra vừa sáu tháng, sau tuy lành bịnh nhưng mục lực đã suy kém. Mắt vừa hơi đỏ thì chỉ nhìn thấy cảnh vật lờ mờ. Lúc thọ giới Cụ Túc, vì ngài cẩn thận và viết chữ khéo nên được cử làm chức Thơ Ký. Do viết chữ quá nhiều, đôi mắt lại phát đỏ như huyết. Lúc trước nhân khi phơi kinh được xem bộ Long Thơ Tịnh Ðộ, biết rõ công đức niệm Phật, nên kỳ thọ giới này, ban đêm sau khi chúng an nghỉ, ngài vẫn ngồi niệm Phật. Ban ngày cho đến lúc viết chữ, tâm cũng không rời Phật. Nhờ đó tuy đôi mắt phát đỏ, vẫn có thể gắng gượng biên chép. Khi giới đàn vừa mãn bịnh đau mắt cũng được lành. Do đây, ngài biết công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn! Và nhân duyên này cũng là đầu mối khiến ngài quy hướng Tịnh Ðộ và khuyên người niệm Phật. Từ đó, Ðại Sư tiến bước trên đường tu học trải qua các danh lam: Tư Phước Tự, Long Tuyền Tự, Viên Quảng Tự và sau cùng đến chùa Pháp Võ ở Phổ Ðà Sơn.
Trong thời gian ấy, khi thì tham học, lúc duyệt Tam Tạng Kinh, khi lại nhập thất, nên ngài ngộ sâu đến Thượng Thừa, lý sự đều vô ngại. Ðại Sư kiến thức cao siêu, làm việc cẩn mật, nên hai phen được Hóa Văn Hòa Thượng và Ðế Nhàn Pháp Sư mời làm đồng bạn đến đế đô thỉnh ba tạng kinh cho Pháp Võ Tự ở Phổ Ðà Sơn và Ðầu Ðà Tự tại Ôn Châu. Cảm mến hạnh đức, Hóa Văn Hòa Thượng thỉnh ngài về ở lầu Tàng Kinh tại chùa Pháp Võ để tĩnh tâm tu niệm. Tính đến cuối đời nhà Thanh, trong hơn ba mươi năm xuất gia, Ðại Sư trước sau mai danh ẩn tích, không thích cùng người tới lui giao tiếp để hôm sớm yên tu, cầu chứng Niệm Phật tam muội.
Nhưng chuông trống tuy đánh bên trong, tiếng thanh vẫn vang ra ngoài. Cao Tăng dù muốn ẩn mình, Thiên Long cũng đưa duyên phổ hóa. Niên hiệu Trung Hoa Dân Quốc năm đầu, cư sĩ Cao Hạc Niên nhân khi hành hương đến chùa Pháp Võ, lúc trở về đem vài bài văn của Ðại Sư đăng lên Phật Học Tòng Báo ở Thượng Hải, dưới đề tên là Thường Tàm. Tuy chưa biết đó là ai, nhưng văn tự Bát Nhã đã khiến cho độc giả phát khởi căn lành, nhiều người đua nhau dò hỏi hỏi chỗ ở. Lúc ấy, Ðại Sư vừa đúng năm mươi hai tuổi. Mấy năm sau, tung tích cũng bị người tìm biết được; lần lượt kẻ vượt bể lên non cầu lời khai thị, người mượn tin hồng nhạn hỏi lối nam châm. Cư sĩ Từ Uất Như sưu tập văn tín của ngài in thành bộ Ấn Quang Pháp Sư Văn Sao, tái bản và tăng đính nhiều lượt, truyền bá cả trong đến ngoài nước.
Ban sơ, khi Từ cư sĩ đem mẹ lên núi cầu xin quy y, Ðại Sư còn bền giữ chí ẩn tu không chịu chấp nhận, bảo sang quy y với Ðế Nhàn Pháp Sư ở chùa Quán Tông tại Ninh Ba. Ðến năm Dân Quốc thứ tám, cư sĩ Châu Mạnh Do đem quyến thuộc lên núi, ba bốn phen đảnh lễ cầu khẩn, xin thâu làm đệ tử tại gia. Ðại Sư quán xét cơ duyên, lý khó khước từ, bất đắc dĩ phải chấp thuận. Tính đến năm ấy, ngài được năm mươi chín tuổi, mới thâu đệ tử quy y lần đầu. Từ đó, hàng thiện tín kẻ viết thư cầu làm đệ tử, người lên non xin được quy y, tất cả đều y giáo phụng hành, ăn chay niệm Phật. Trong một đời giáo hóa, đệ tử tại gia của Ðại Sư, từ hạng quyền quý giàu sang, danh nhơn học sĩ đến kẻ thôn dã thường dân, số lên đến gần ba trăm ngàn người. Có nhiều vị niệm Phật tu hành được sanh về cõi Cực lac.
Ðại Sư trì giới tinh nghiêm, giữ mình rất kiệm ước. Ðồ phục dụng tốt đẹp, cùng thức ăn uống ngon quí người đem đến dâng, nếu không từ khước được cũng chuyển tặng cho những vị xuất gia khác. Còn phẩm vật thông thường thì đều chuyển giao cho nhà kho của chùa để đại chúng cùng thọ hưởng. Bao nhiêu số tiền của dân tín cùng dường riêng cho mình, ngài đều đem in kinh sách, hoặc cứu tế các nạn tai, hay giúp vào những cơ quan từ thiện. Riêng mình chỉ giữ phần cơm thô, áo vải đến trọn đời. Ðại Sư tánh không thích phô trương, có vài Phật tử mến khi ngài còn bé qua giai đoạn xuất gia và ra đời hoằng hóa, viết thành tuyệt ký, rồi gởi đến xin hiệu chính để ấn tống lưu truyền rộng ra. Ngài đều khước từ, gởi nguyên bản trả lại, khuyên xin vì mình mà dẹp bỏ đi. Hai vị hiển quan: Ðào Tại Ðông và Hoàng Hàm Chi có viết thư đem đạo hạnh của Ðại Sư trình lên Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc. Ngài được Từ Tổng Thống phong tặng tấm biển đề "Ngộ Triệt Viên Minh", sai đoàn đại biểu đem đến tận chùa Phổ Ðà, cùng hiến dâng nhiều hương hoa phẩm vật. Hàng đạo tục nghe thấy đều ngợi khen, song riêng ngài vẫn thản nhiên dường không hay biết. Ðại Sư có ba điểm đặc biệt khác hơn những vị xuất gia đương thời. Một là không lãnh làmtrụ trì tự viện lớn, vì cho mình kém đức, e chướng ngại đến sự thanh tu. Hai là không thâu đệ tử xuất gia, vì xét thấy vào thời mạt pháp đã sâu, người xứng đáng với bổn phận xuất gia rất ít, nên không muốn gây nhiều hệ lụy. Ba là không quyên mộ khuyến hóa, bởi thẹn thấy nhiều kẻ vì lợi danh mà làm mất sự thanh khiết của nhà tu.
Về duyên hoằng hóa, Ðại Sư quán xét vào thời mạt vận đạo đức lần suy, nhơn căn hầu hết đều kém yếu; phần đông chỉ ở trình độ giữ Tam Quy Ngũ Giới, niệm Phật ăn chay mà thôi. Như thế cũng gọi là đã có nhiều căn lành rồi. Còn hạng siêu xuất thì thật ra tuyệt ít. Vì thế, đại khái ngài chỉ khuyên giữ trọn luân thường, tin chắc nhân quả, lánh dữ làm lành, tín nguyện niệm Phật, cầu sanh Tây Phương. Người đáng chiết phục, dù bậc Thiền túc cự Nho, đạt quan danh sĩ, cũng thẳng thắn chỉ trích; kẻ đáng nhiếp thọ, tuy hạng sơ học hậu sanh, nông công nô bộc, cũng từ ái dạy khuyên. Cách giáo hóa của ngài, chỉ đem những sự lý thiết thật bình thường để khuyến ích. Tuy chính mình hiểu sâu Tông, Giáo, song không chuộng huyễn luận cao đàm. Ðại Sư thường tán trợ vào các hội Niệm Phật phóng sanh, khuyên giúp vào các viện từ ấu, dưỡng lão. Ngài cũng sáng lập ra Hoằng Hóa Xã, giao cho người coi sóc, mình lãnh phần chỉ đạo, để ấn tống hoặc phát hành kinh sách và tượng Phật. Trong hơn hai mươi năm, nơi đây đã lưu hành trên một triệu bức tượng Phật, Bồ Tát và hơn năm triệu bộ kinh sách thích ứng với thời cơ.
Về công trình hộ pháp, lúc Âu chiến lần thứ nhứt, chính quyền có nghị định cho dời những kiều dân người Ðức vào ở các chùa. Ðại Sư cố gắng vận động với các bậc quyền thế khiến cho bỏ qua việc đó. Từ năm Dân Quốc thứ hai đến năm Dân Quốc thứ hai mươi lăm, đã nhiều phen chính phủ theo lời đề nghị của những nhà đương quyền có óc duy vật, lần lượt đăng báo muốn sung tài sản chùa chiền vào công quỹ, chiếm các tự viện làmtrường học. Ðại Sư hợp sức cùng chư tăng sĩ và các cư sĩ hộ pháp lập cách giải cứu, khiến cho đều được nạn khỏi tai qua. Ngoài ra, các tiểu tiết khác, ngài chỉ tùy thời dùng đôi lời nói, hoặc một phong thơ; đều tiêu trừ kiếp nạn.
Về phần linh cảm, năm Ðại Sư bảy mươi tuổi được Tăng chúng thỉnh về chùa Báo Quốc. Vào cuối mùa Hạ, nơi đây sanh ra loài rệp rất nhiều. Từ gối chăn màn nệm, đến cửa sổ, án kinh, đâu đâu cũng thấy chúng bò lai vãng. Hàng đệ tử thương ngài tuổi già sợ không kham chịu sự quấy nhiễu, xin vào để tìm cách thâu nhập. Ðại Sư không chấp nhận, chỉ yên tâm niệm Phật cầu nguyện cho chúng đi, không bao lâu, loài rệp đều tuyệt tích. Ngoài thời niệm Phật, ngài thường tụng chú Ðại Bi gia trì vào tàn hương, gạo, hoặc nước, để cứu những bịnh nặng mà các y sĩ đều bó tay. Mỗi lần như thế đều được ứng nghiệm kỳ lạ. Một hôm, nơi lầu Tàng Kinh chùa Báo Quốc phát hiện vô số mối trắng. Ngài hay được liền trì chú Ðại Bi trong nước, bảo đem đến vẩy rưới vào chúng. Loài mối đều kéo nhau bỏ đi nơi khác. Cư sĩ Cao Hạc Niên có lời tự thuật: Sở dĩ ông biết Ấn Quang Ðại Sư là bậc cao tăng, bởi ngài nói những lời rất thông thường, nhưng càng nói những lời rất thông thường, nhưng càng suy gẫm càng thấy đúng với hiện cảnh và sau đều có ứng nghiệm”. Kỳ lên núi Phổ Ðà lần thứ nhứt, lúc nhà Thanh hãy còn, nhân ở ngụ tại chùa lâu ngày, cư sĩ có hỏi Ðại Sư về cuộc diện mai sau. Ngài ứng khẩu đáp bằng một bài thi:
Tuần hoàn kiếp số rất bi thương!
Thoát khổ đâu hơn Cực Lạc bang?
Gắng niệm Di Ðà về bản cảnh
Ðừng mê trần lụy lạc tha hương
Bụi hồng nghiệp trước đời hư mộng
Lửa đỏ ngày sau nước họa ương
Khuyên sớm xa nơi nhiều kiếp nạn
Cùng nhau dạo bước đến Liên phương.
Trong bài thi, ngài ám chỉ nạn binh hỏa về sau, và khuyên người niệm Phật vậy.
Năm Dân Quốc thứ mười bảy, Ðại Sư thành lập Tịnh Ðộ đạo tràng tại chùa Linh Nham, soạn ra chương trình quy củ giao cho Chân Ðạt Hòa thượng nhiếp chúng trụ trì. Từ đó ngài về ở tịnh thất tại Tô Châu. Sau thời niệm Phật, Ðại Sư họp cùng cư sĩ Hứa Chỉ Tịnh, tu chỉnh bốn quyển Danh Sơn Chí, nói về linh tích các núi: Phổ Ðà, Thanh Lương, Nga Mi, Cửu Hoa. Năm bảy mươi bảy tuổi vì chiến cuộc bức bách, ngài từ Tô Châu dời về Linh Nham, an cư niệm Phật ba năm.
Năm Dân Quốc thứ hai mươi chín, ngày 24 tháng 10, Ðại Sư dự biết kỳ vãng sanh, cho triệu tập chư Tăng và cư sĩ về chùa Linh Nham. Trong buổi hội đàm, ngài suy cử Diệu Chơn Hòa Thượng kế nhiệm trụ trì, dặn dò các việc mai sau, và bảo: "Pháp môn Niệm Phật không có chi đặc biệt lạ kỳ. Chỉ cần khẩn thiết chí thành thì không ai chẳng được Phật tiếp dẫn". Qua ngày mùng 4 tháng 11, Ðại Sư cảm bịnh nhẹ, song vẫn tinh tấn niệm Phật. Niệm xong, bảo đem nước rửa tay, rồi đứng lên nói: "Phật A Di Ðà đã đến tiếp dẫn, tôi sắp đi đây. Ðại chúng phải tin nguyện niệm Phật cầu về Tây phương!". Nói đoạn, bước lại ghế ngồi kiết già, chắp tay trì danh theo tiếng trợ niệm của đại chúng rồi an lành viên tịch. Lúc ấy, Ðại Sư tăng lạp được sáu mươi, thế thọ tám mươi tuổi.
Rằm tháng Hai năm sau, nhằm thánh tiết Phật nhập Niết Bàn, cũng vừa đúng kỳ Ðại Sư vãng sanh được một trăm ngày. Hàng đạo tục các nơi hội về Linh Nham trên hai ngàn người, sắp đặt lễ trà tỳ. Lúc ấy bầu trời hốt nhiên sáng tạnh trong trẻo. Khi Chân Ðạt Hòa Thượng cầm đuốc cử hỏa, khói bay lên trắng như tuyết, hiện ra ánh sáng năm sắc. Hôm sau Diệu Chơn Hòa Thượng cùng đại chúng đến nơi khám nghiệm, thấy xá lợi hiện ra nhiều hình dáng, đủ các màu, có thứ gồm ngũ sắc. Tất cả đều cứng như khoáng chất, gõ vào phát ra tiếng trong thanh. Ðại chúng lựa chia thành sáu phần:
1. Nha xỉ xá lợi: gồm ba mươi hai cái răng.
2. Ngũ sắc xá lợi châu: nhiều hạt tròn sáng.
3. Ngũ sắc tiểu xá lợi hoa: hình như các đóa hoa nhỏ.
4. Ngũ sắc đại xá lợi hoa: hình như những đóa hoa lớn.
5. Ngũ sắc huyết xá lợi: do huyết nhục hóa thành.
6. Ngũ sắc xá lợi khối: gồm những khối có nhiều hình dáng, màu sắc.
Tất cả đều để vào lồng kiếng, trân tàng tại bản sơn.
Kế tiếp hàng Tăng Ni và đệ tử lễ bái thỉnh cầu, vị nào có thành tâm khi bới tro tìm kiếm đều được xá lợi. Như Quảng Hiệp Pháp Sư ở Tân Gia Ba, Pháp Ðộ Thượng Nhơn ở Ngũ Ðài, cư sĩ Ngô Quốc Anh ở Phi Luật Tân, cư sĩ Nhạc Huệ Võ ở Thượng Hải, mỗi vị đều được xá lợi màu xanh, màu vàng, huyết sắc hoặc ngũ sắc. Ðại Sư lúc bình thời, ngôn hạnh chân thật, không biểu thị điều chi kỳ lạ nên chẳng thể biết ngài chứng đắc đến đâu. Song hàng Tăng tục xét qua đạo hạnh, sự hoằng hóa thuở còn sanh tiền, đến việc quy Tây và lưu xá lợi khi viên tịch, đều nhận định ngài là bậc thánh nhơn tái lai để tùy cơ độ sanh và hộ trì chánh pháp. Vì thế, nhân ngày kỷ niệm một năm viên tịch, các liên hữu Tăng tục đồng suy tôn Ðại Sư làm vị Tổ thứ mười ba của Liên tông.
Lời phụ:
Tịnh Ðộ không có sự truyền thừa như chư Tổ bên Thiền tông. Sở dĩ có chư Tổ Tịnh Ðộ là do các vị Tăng, tục tu môn niệm Phật đời sau, hợp lại chọn những bậc siêu xuất mà suy tôn. Sự siêu xuất ấy biểu lộ trên ba quan điểm:
1. Về phần kiến thức, phải là bậc hiểu sâu cả Tông lẫn Giáo, ngộ đến thượng thừa.
2. Về phần đạo hạnh, phải giới phẩm tinh nghiêm, tu hành tinh tấn. Khi lâm chung có triệu chứng vãng sanh.
3. Về phần hoằng hóa, phải có công tuyên dương Tịnh Ðộ, hộ trì chánh pháp, khuyến đạo ngàn muôn người niệm Phật.
Trong Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục chỉ ghi có mười một vị Tổ tông Tịnh Ðộ. Về sau nơi đạo tràng Linh Nham, ngài Ấn Quang họp các liên hữu tăng tục, suy tôn Hành Sách Ðại Sư làm vị Tổ thứ mười, đưa Thật Hiền Ðại Sư lên hàng thứ mười một và Tế Tỉnh Ðại Sư lên hàng thứ mười hai. Sau khi Ấn Quang Ðại Sư vãng sanh, chư liên hữu xét thấy ngài có công lớn với Tịnh Ðộ, mới họp lại đồng suy tôn lên làm vị Tổ thứ mười ba.
Thiền tông tuy có y bát truyền thừa, nhưng mục đích dùng để hiểu tín với quần chúng. Sau đời Lục Tổ, chỉ truyền pháp không còn truyền y bát, vì lúc ấy Thiền hóa đã thạnh hành. Bên Tịnh Ðộ, chư Ðại Sư cũng thuần vì bi trí lợi sanh, không tự gọi mình là Tổ. Chỉ sau khi các ngài viên tịch, người đời sau mới suy tôn lên. Nhưng thật ra, xét kỳ qua mọi phương diện, các vị đều là bậc thánh nhơn ứng hóa, xứng đáng được tôn là Tổ. Những bậc cao tăng thông thường không thể làm được như vậy.
Trong mười ba vị Tổ của Tịnh Ðộ, đã có bảy ngài nguyên là Thiền sư được chánh truyền. Các vị ấy là: Thừa Viễn, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích, Hành Sách, Tỉnh Am và Triệt Ngộ. Tại sao các ngài đã ngộ Thiền mà không hoằng Thiền, trở lại hoằng Tịnh? Trong đây có ba nguyên yếu:
1. Về pháp môn: Trực Chỉ Thiền chỉ có lợi cho bậc thượng thượng căn, hàng trung, hạ khó bề thể nhập (“Phi thượng thượng căn, thận vật khinh hứa” - Tổ ngữ). Còn môn Tịnh Ðộ thì lợi khắp cả ba căn. Hàng thượng thượng căn tu Tịnh Ðộ có thể hiện đời ngộ được bản tâm, chứng Niệm Phật tam muội, khi mạng chung sanh về Thượng phẩm. Dù kẻ tối hạ căn nếu chuyên niệm Phật cũng được đới nghiệp vãng sanh, lên ngôi Bất Thối. Khi đã vãng sanh, kề cận Di Ðà, gần gũi thánh chúng, thọ mạng vô biên kiếp, lo gì không ngộ chân tâm, chứng thánh quả! Vì sự lợi ích rộng rãi chắc chắn như thế, các ngài mới khuyên tu Tịnh Ðộ!
2. Về thời tiết: Trong thời Chánh Pháp, có thật hành phần nhiều đều chứng quả, hoặc đi sâu vào thiền định để làm cơ bản cho những kiếp tu sau. Qua thời Tượng Pháp, sự ngộ đạo còn có ít người huống chi là chứng! Ðến thời Mạt Pháp, như kinh Ðại Tập nói: "Ức ức người tu hành, song khó tìm một người ngộ đạo". Dù được ngộ đạo, nhưng chưa phải chứng, phiền não nghiệp tập hãy còn, khi luân hồi bị phước báo làm mê, mười người đã thối chuyển hết chín. Do đó, từ cuối thời Tượng bước sang Mạt Pháp, chư đại thiện tri thức lần lần chuyển hướng dạy người tu Tịnh Ðộ. Vì bấy giờ thiền hóa còn thạnh hành, các ngài thị hiện phương tiện, trước triệt ngộ Thiền cơ, sau hoằng dương Tịnh Ðộ, mới được người đương thời tín nhiệm tuân hành.
3. Về cơ duyên: Từ đầu Mạt Pháp trở về sau, căn cơ của quần chúng hầu hết là hạng trung, hạ. Muốn thật hiện mục đích lợi sanh trong thời đại này, chư Bồ Tát phải tùy cơ duyên mà chủ trương Tịnh Ðộ. Các tông khác tuy cũng rất cần chấn hưng, nhưng chỉ thuộc phần thứ yếu, bởi sự lợi ích không được phổ cập. Từ trước chư tôn túc trong các tông khác xét biết điều này, nên tuy vẫn hoằng dương bổn môn mà phần nhiều đều quy hướng Tịnh Ðộ. Như Chân Yết Liễu thiền sư nói: "Những vị dưới tông Tào Ðộng đều mật tu Tịnh Ðộ, bởi Tịnh Ðộ thấy Phật còn dễ hơn Thiền tông" (Ðộng hạ nhất tông giai cụ mật tu, dĩ Tịnh Ðộ kiến Phật vưu giản vị ư Tông môn).
Về như thời cận đại, Ðế Nhàn Pháp Sư tuy truyền bá tông Thiên Thai, song vẫn niệm Phật. Khi sắp viên tịch, ngài đọc lời kệ khuyến tấn đại chúng:
Tôi nhờ niệm Phật.
Tịnh Ðộ hiện tiền.
Thọ dụng chân thật.
Chúng gắng tinh chuyên!
Ấn Quang Pháp Sư trong bức thư gởi cho Thể An Hòa thượng có nói: "Trong mấy mươi năm lịch duyệt Bắc, Nam, đi về hàng muôn dặm, tôi kinh nghiệm thấy những vị thông minh hiểu suốt Tông giáo, khinh thường Tịnh Ðộ, khi lâm chung phần nhiều mê loạn, đôi khi có trạng thái kêu la. Còn những người chân thật niệm Phật, dù tín nguyện chưa chí thiết, không có thoại ứng lúc lâm chung, nhưng họ chết đều yên ổn cả".
Cho nên, từ lúc sanh tiền đến khi quá vãng, môn Niệm Phật đích thật là con thuyền cứu khổ nhơn sanh trong thời buổi này vậy.
Trích Mấy Ðiệu Sen Thanh Quyển 1 - Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

KINH A DI ĐÀ

Phật dạy kinh A di đà:
Như thật tôi nghe
Một thời đức Phật
Ở nước Xá vệ
Vườn Cấp cô độc
Cùng tỳ kheo tăng
Một ngàn hai trăm
Năm mươi người đủ
Đều là những bậc
Đại A la hán
Tai mắt đại chúng
Trưởng lão Xá lợi
Đại Mục kiền liên
Ma ha Ca diếp
Đại Ca chiên diên
Đại Câu thi la
Và Ly bà đa
Châu lợi bàn đà
A nan, Nan đà
Và La hầu la
Kiều phạm ba đề
Tân đầu, La đọa
Ca lưu đà di
Đại Kiếp tân na
A nâu lâu đà
Và Bạt câu la
Như vậy đông đủ
Các hàng đệ tử
Bồ tát đại sĩ
Văn thù sư lợi
Vương tử Văn thù
Và A dật đa
Bồ tát Hương thượng
Bồ tát Bất hưu
Bồ tát Thường cần
Cùng như vậy thảy
Các đại bồ tát
Thích đề hoàn nhân
Vô lượng chư thiên
Đại chúng đông đủ,
Bấy giờ Phật gọi,
Ngài Xá lợi phất
Mà bảo như vầy:
Từ đây đi qua,
Đến hướng Tây phương,
Cách mười vạn ức,
Quốc độ chư Phật,
Có một thế giới
Hiệu là Cực lạc
Trong thế giới ấy
Có một đức Phật
Hiệu A Di Đà
Hiện đang thuyết pháp
Này Xá lợi phất!
Vì sao cõi ấy
Tên làCực lạc ?
Chúng sanh cõi ấy,
Không có các khổ,
Hoàn toàn an vui,
Nên gọi Cực lạc.
Lại Xá lợi phất!
Cõi nước Cực lạc,
Bảy lớp lan can
Bảy lớp lưới giăng,
Bảy lớp hàng cây,
Đều dùng bốn báu
Bao quanh bốn phía
Cho nên, cõi kia
Gọi là Cực lạc.
Lại Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc,
Có hồ bảy báu,
Có nước tám đức,
Vừa đầy trong đó,
Dưới đáy nước hồ,
Toàn bằng cát vàng,
Bốn phía bờ đường,
Vàng bạc lưu ly
Pha lê xa cừ,
Họp lại mà thành,
Trên có lầu gác,
Cũng dùng vàng bạc,
Lưu ly pha lê,
Xa cừ mã não,
Mà trang điểm đó.
Hoa sen trong hồ,
Lớn như bánh xe,
Sen xanh ánh xanh,
Sen vàng ánh vàng,
Sen đỏ ánh đỏ,
Sen trắng ánh trắng,
Hương thơm ngào ngạt
Thanh khiết nhiệm mầu.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Lại Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Thường tấu nhạc trời,
Vàng ròng làm đất,
Ngày đêm sáu thời
Rưới hoa mạn đà,
Chúng sinh ở đó
Tảng sáng mỗi ngày
Đều dùng đảy gấm
Đựng các thứ hoa
Cúng dường chư Phật.
Ở khắp mười phương
Mười vạn cõi Phật,
Trong chừng giây lát
Trở về xứ mình,
Ăn cơm, kinh hành.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Còn như vầy nữa,
Này Xá lợi phất!
Cõi kia thường có
Các thứ chim lạ,
Màu sắc đẹp đẽ,
Bạch hạc, khổng tước,
Anh vũ, xá lợi,
Ca lăng tần già,
Và chim cộng mạng.
Các loài chim ấy
Ngày đêm sáu thời
Kêu tiếng hòa nhã,
Tuyên dương những pháp
Năm căn năm lực,
Bảy phần bồ đề,
Tám phần thánh đạo,
Các pháp ấy thảy.
Chúng sinh ở đó
Nghe tiếng ấy rồi,
Đều nhớ niệm Phật,
Niệm pháp, niệm tăng.
Này Xá lợi phất!
Chớ bảo chim ấy
Thật do tội báo,
Bởi nghiệp sanh ra.
Lý do vì sao ?
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Không ba đường dữ.
Này Xá lợi phất!
Cõi kia ác đạo
Còn không có tên
Làm gì có thật ?
Các loài chim ấy
Do Phật Di Đà
Muốn cho tiếng pháp
Vang khắp mọi nơi,
Mà biến hóa ra.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Gió dịu phảng phất
Thổi vào hàng cây,
Và các lưới báu,
Xuất tiếng nhiệm mầu,
Ví như trăm ngàn
Các thứ âm nhạc
Đồng thời hòa tấu.
Nghe tiếng nhạc ấy,
Tự nhiên sanh lòng
Niệm Phật, niệm pháp,
Niệm thánh hiền tăng.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật ấy,
Thành tựu như thế,
Công đức trang nghiêm.
Này Xa lợi phất!
Ý ông nghĩ sao ?
Phật kia vì sao
Gọi A Di Đà ?
Này Xá lợi phất!
Ánh sáng Phật kia,
Vô lượng vô biên,
A tăng kỳ kiếp
Cho nên, được gọi
Là A Di Đà.
Này Xá lợi phất!
Phật A Di Đà
Thành Phật đến nay
Đã qua mười kiếp.
Đại Xá lợi phất!
Phật kia hiện có
Vô lượng vô biên
Thanh văn đệ tử
Đều A la hán
Không thể tính kể
Mà biết số lượng
Các hàng bồ tát,
Cũng lại như vậy.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Phật kia,
Thành tựu như thế
Công đức trang nghiêm.
Này Xá lợi phất!
Quốc độ Cực lạc
Chúng sanh sinh về
Đều được bất thối,
Trong đó hạng người
Nhất sinh bổ xứ,
Số ấy thật nhiều
Không thể tính kể
Biết được số lượng,
Chỉ có thể nói
Vô lượng vô biên
A tăng kỳ kiếp.
Này Xá lợi phất!
Chúng sinh được nghe
Thì hãy phát nguyện,
Sanh về nước kia.
Lý do vì sao ?
Sinh về đó rồi,
Thường cùng các bực
Thượng thiện trí thức
Ở chung một chỗ.
Này Xá lợi phất!
Không thể do bởi
Chút ít thiện căn
Phước đức nhơn duyên
Mà được sanh về
Quốc độ Phật kia.
Này Xá lợi phất!
Nếu có thiện nam,
Hay người tín nữ
Nghe nói cảnh giới
Phật A di đà,
Chấp trì danh hiệu
Hoặc chỉ một ngày
Hoặc hai ba ngày
Hay năm sáu ngày
Cho đến bảy ngày,
Nhất tâm bất loạn,
Người ấy lâm chung
Khi bỏ báo thân,
Phật A di đà
Và các thánh chúng
Hiện ra trước mắt.
Người ấy khi chết,
Lòng không điên đảo
Liền được vãng sanh
Quốc độ Cực lạc
Phật A di đà.
Này Xá lợi phất!
Ta thấy lợi ấy,
Nên nói lời này:
Nếu chúng sanh nào,
Nghe pháp thoại này,
Hãy nên phát nguyện
Sinh về nước kia.
Lại Xá lợi phất!
Như ta hôm nay,
Xưng dương tán thán
Lợi ích công đức
Bất khả tư nghì.
Phật A di đà,
Phương Đông cũng có
Phật A súc bệ,
Phật Tu di tướng,
Phật đại Tu di,
Phật Tu di quang,
Và Phật Diệu âm,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới,
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sinh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Nam,
Có Phật Nguyệt đăng
Phật Danh văn quang,
Phật Đại diệm kiên,
Phật Tu di đăng
Phật lực Tinh tấn,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba nghìn
Đại thiên thế giới,
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Bất khả tư nghì
Công đức lớn lao
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Tây
Có Phật Vô lượng thọ,
Phật Vô lượng tướng,
Phật Vô lượng tràng,
Phật Đại quang,
Phật Đại minh,
Phật Bửu tướng,
Phật Tịnh quang,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sinh,
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn.
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương Bắc
Thế giới phương Bắc
Có Phật Diệm kiên
Phật Tối thắng âm
Phật Nan trở
Phật Nhật Minh
Phật Võng minh
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương dưới
Có Phật Sư tử
Phật Danh văn,
Phật Đạt ma
Phật Pháp tràng
Phật Trì pháp
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Này Xá lợi phất!
Thế giới phương trên
Có Phật Phạm âm
Phật Tú vương,
Phật Hương thượng,
Phật Hương quang,
Phật Đại diệm kiên,
Phật Tạp sắc,
Bảo hoa nghiêm thân,
Ta la thọ vương,
Phật Bảo hoa đức,
Kiến nhứt thiết nghĩa,
Phật Tu di sơn,
Như vậy cho đến
Vô lượng vô số
Chư Phật thế tôn
Ở quốc độ mình
Hiện ra tướng lưỡi
Đẹp đẽ rộng dài
Trùm khắp ba ngàn
Đại thiên thế giới
Nói lời chân thật:
Tất cả chúng sanh
Nên tin những lời
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì,
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn
Này Xá lợi phất!
Ý người nghĩ sao?
Vì sao gọi là
Kinh được hết thảy
Chư Phật giữ gìn?
Này Xá lợi phất!
Nếu có thiện nam
Hay người thiện nữ,
Nghe được kinh này,
Chuyên tâm thọ trì
Và nghe danh hiệu
Chư Phật Thế tôn,
Thì người thiện nam
Hay thiện nữ ấy
Đều được tất cả
Chư Phật thế tôn
Luôn luôn hộ niệm,
Đều không thối chuyển
Vô thượng bồ đề.
Vì vậy cho nên,
Này Xá lợi phất!
Các người đều phải
Nên tin lời ta
Và lời chư Phật
Này Xá lợi phất!
Nếu có những người
Đã phát nguyện rồi
Hay đang phát nguện
Hoặc sẽ phát nguện,
Muốn sanh quốc độ
Phật A Di Đà;
Tất cả người ấy
Được không thối chuyển
Vô thượng bồ đề,
Và đã sinh về
Hoặc nay đang sinh
Hoặc sau sẽ sinh
Về quốc độ kia.
Vì vậy cho nên
Này Xá lợi phất!
Các người thiện nam
Hoặc kẻ thiện nữ
Nếu có lòng tin,
Hãy nên phát nguyện
Sinh quốc độ kia.
Này Xá lợi phất!
Như ta hôm nay,
Xưng dương tán thán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì
Của chư Phật ấy.
Thì các Phật kia
Lại cũng xưng tán
Công đức lớn lao
Bất khả tư nghì.
Các ngài nói rằng:
Đức Phật Thích ca
Mâu ni Thế tôn
Hay làm những việc
Hi hữu khó làm.
Ở cõi Ta bà
Trong đời dữ dội
Bởi năm thứ trược,
Kiếp trược, kiến trược
Phiền não, chúng sanh
Và thọ mạng trược,
Để chứng đạo quả
Vô thượng bồ đề,
Lại vì chúng sanh
Nói ra những việc
Khó tin khó làm.
Này Xá lợi phất!
Ngươi biết, ta ở
Trong đời ác trược
Làm việc khó ấy,
Chứng được đạo quả
Vô thượng bồ đề,
Lại vì tất cả
Chúng sinh thế gian
Nói pháp khó tin,
Thật là rất khó.
Phật dạy đến đây,
Ngài Xá lợi phất
Cùng các tỳ kheo
Tất cả thế gian
Mọi người, chư thiên,
Và A tu la
Nghe lời Phật dạy
Hoan hỷ tín thọ,
Lạy Phật mà lui.

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2012

Chuyện về nữ tiên tri huyền thoại Vanga


Năm 1980, nhà tiên tri mù nói rằng: “Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, tháng 8 năm 1999 hoặc năm 2000, Krusk sẽ ngập chìm trong nước, cả thế giới sẽ đau buồn về điều này”. Ở thời điểm đó, người ta không mấy bận tâm đến lời tiên liệu trên. Tuy nhiên, 20 năm sau, loài người đã phải sững sờ kinh ngạc. Một tàu ngầm nguyên tử của Nga gặp nạn tháng 8/2000. Toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương. Và kỳ lạ thay, con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk.
Hồi sinh ra từ cát bụi 
Vanga sinh ngày 31/1/1911, mất ngày 11/8/1996. Bà sống ẩn dật cả đời ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc Petrich, Bungary. Vanga mất thị lực năm 12 tuổi sau khi bị cuốn đi bởi một cơn lốc lớn. Người ta tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá, hai hốc mắt chứa đầy cát. Vanga làm bạn với bóng tối từ đó. Lời tiên tri đầu tiên của Vanga được ghi nhận là vào năm bà 16 tuổi. Bà giúp cha mình tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc. Tuy nhiên, khả năng tiên tri của Vanga chỉ thực sự đạt đến độ chín năm 30 tuổi. Nhiều người tìm đến bà để xin những lời tiên tri. Trong đó có cả “kẻ hủy diệt” Adolf Hitler. Hitler từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu

Nhà tiên tri vanga lừng danh thế giới

Không có nhiều người tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên, người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó thành hiện thực. Vanga trở nên nổi tiếng vì những tiên đoán “thần thánh” của bà về những thảm họa toàn cầu. Độ chính xác của những lời tiên tri này khiến loài người giật mình hoài nghi: Liệu có thực sự tồn tại một thế lực siêu nhiên? Biết bao giấy mực đã cất công nghiên cứu để giải đáp về “bí ẩn Vanga”. 

Ví dụ, Vanga từng tiên đoán về vụ tấn công khủng bố ngày 11/9 ở Mỹ, khi bà nói rằng “người Mỹ sẽ ngã xuống dưới sự tấn công của những con chim sắt”. Nhà tiên tri cũng dự đoán chính xác sự bùng nổ Đại chiến thế giới thứ 2, cải tổ kinh tế chính trị ở Liên bang Xô Viết cũ, cái chết của công nương Diana và thậm chí vụ chìm tàu ngầm nguyên tử Kursk. 

Năm 1980, nhà tiên tri mù nói rằng: “Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ, tháng 8 năm 1999 hoặc năm 2000, Krusk sẽ ngập chìm trong nước, cả thế giới sẽ đau buồn về điều này”. Ở thời điểm đó, người ta không mấy bận tâm đến lời tiên liệu trên. Tuy nhiên, 20 năm sau, loài người đã phải sững sờ kinh ngạc. Một tàu ngầm nguyên tử của Nga gặp nạn tháng 8/2000. Toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương. Và kỳ lạ thay, con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk. 

Các chuyên gia thấy rằng nhà tiên tri huyền thoại này đã đưa ra những cảnh báo chính xác về các sự kiện liên quan đến căng thẳng vũ trang ở Nam Ossetia. Vanga nói chiến tranh thế giới thứ ba là hệ quả tất yếu của sự đấu tranh sinh tồn giữa bốn người đứng đầu các chính phủ và sự xung đột của những người theo đạo Hinđu. Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi Vanga dự đoán chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010. 
Cuộc đời là những thước phim 

Vanga không biết chữ, bà cũng chưa từng viết một cuốn sách nào. Giọng nói của bà rất khó nghe và nặng thổ ngữ. Những gì Vanga nói hoặc được cho là do bà tiên đoán chủ yếu được ghi chép lại bởi những người xung quanh bà. Sau này, vô số những quyển sách bí truyền về cuộc đời và những tiên đoán của Vanga đã được viết ra. 

Theo Vanga thì khả năng phi thường của bà liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình, dù bà không thể giải thích rõ ràng nguồn gốc của chúng. Những sinh vật đó cho bà thông tin về con người. Cuộc sống của tất cả mọi người đứng trước bà hiển hiện giống như những thước phim từ lúc sinh ra đến khi nằm xuống. Tuy nhiên bà không có quyền năng thay đổi số phận. 

Vanga từng dự đoán về những đứa trẻ mới chào đời và cả những sinh linh chưa ra đời. Bà cũng tuyên bố rằng bà đang “nhìn thấy” và “nói chuyện” với những người đã chết cách đây hàng trăm năm. Vanga thậm chí bảo rằng những người ngoài hành tinh đã đang sống trên trái đất từ rất lâu rồi. Họ đến từ những hành tinh mà ở đó dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm. 

Những người theo Vanga tin rằng bà biết chính xác ngày chết của mình. Và chỉ không lâu trước ngày đó, bà nói có một cô bé tóc vàng 10 tuổi sống ở Pháp sẽ thừa hưởng những khả năng trời phú của bà, và rằng loài người sẽ sớm tìm ra cô bé đó. 
Những lời tiên đoán kinh hoàng về tương lai! 


 
Theo lời của Vanga, trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ, Afghanistan, Pakistan, Trung Quốc, Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. 

Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu, cuộc chiến tranh diễn ra bình thường, tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học. 

Năm 2011 - Không một loài động vật, thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó, những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu. 

Năm 2014 - Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ, ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học. 

Năm 2016 - Châu Âu gần như không có người sinh sống. 

Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản. 

Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi. 

Năm 2025 - Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu. 

Năm 2028 - Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới, kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này, con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim. 

Năm 2033 - Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao. 

Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu. 

Năm 2046 - Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất. 

Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo, Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này, trời trở lạnh đột ngột. 

Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành. 

Năm 2084 - Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên. 

Năm 2088 - Xuất hiện một căn bệnh lạ “lão hóa chỉ trong vài giây!!!”. 

Năm 2097 - Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu. 

Năm 2100 - Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất. 

Năm 2111 - Con người sẽ trở nên kiệt sức. 

Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.

Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri, người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này, loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga. 

Năm 2130 - Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước. 

Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người, nửa thú). 

Năm 2167 - Xuất hiện tôn giáo mới. 

Năm 2170 - Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất. 

Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch. 

Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực. 

Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau. 

Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh. 

Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất, loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn. 

Năm 2256 - Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất. 

Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này, sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa. 

Năm 2271 - Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi. 

Năm 2273 - Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng, da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới. 

Năm 2279 - Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen. 

Năm 2288 - Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh. 

Năm 2291 - Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại. 

Năm 2296 - Mặt trời hoạt động mạnh hơn, lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất phương hướng. 

Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi. 

Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ. 

Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng 

Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất. 

Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng, kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài. 

Năm 2371 - Xảy ra nạn đói lớn. 

Năm 2378 - Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành. 

Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau, Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn. 

Năm 3005 - Xuất hiện các “cuộc chiến” mới trên sao Hỏa, quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn. 

Năm 3010 - Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng, quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.

Năm 3797 - Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một “hệ Mặt trời” khác. 
Có người nói cứ mỗi lần khủng hoảng kinh tế là lại có 1 đại chiến thế giới? Liệu điều này có đúng chăng? WW III vào năm 2010? Hiện giờ Bắc Triều Tiên đang lục đục phóng tên lửa, mâu thuẫn gay gắt giữa Nhật vaf Mỹ, liệu là điềm báo cho một tương lai đen tối...